Có trị và phòng bênh cho tôm khi nhiễm dịch bệnh ems là câu hỏi mà bất kì người nuôi tôm nào
cũng quan tâm . Tìm hiểu về lịch sử ngành bệnh học tôm cho thấy việc điều trị sau khi bệnh đã
xảy ra là rất khó, do tôm không có hệ miễn dịch đặc hiệu; sau khi mắc bệnh tôm
thường bỏ ăn nên không đưa thuốc vào được; và thường khi mắc bệnh, tôm chết rất
nhanh nên khó có thể điều trị kịp.
Thêm vào đó, liên quan tới vấn đề
sức khoẻ người tiêu dùng ở các nước nhập khẩu tôm như dư lượng kháng sinh, hoá
chất cấm, v.v... khiến việc lựa chọn phương pháp điều trị bệnh tôm là rất hạn
chế. Đối với dịch bệnh EMS, các
nghiên cứu của tôi cho thấy, sau khi bị nhiễm mầm bệnh, tôm có thể chết rất
nhanh, có khi chỉ sau khi tiếp xúc với mầm bệnh chưa đầy 12 tiếng. Ngoài ra,
chính con tôm bệnh trở thành nguồn lây cho các con tôm khỏe khác trong đàn qua
đường nước, phân và cả xác tôm chết, làm cho bệnh lan rất nhanh. Đó là lý do
một khi đàn tôm đã nhiễm bệnh thì việc cứu chữa là rất khó khăn và ít hiệu quả.
Các hội nghị chuyên ngành về
bệnh tôm và chủ đề dịch bệnh EMS trêntôm đều thống nhất rằng, khó có thể tìm ra một phương thuốc thần kỳ nào
giải quyết được vấn đề tôm nhiễm bệnh ems, mà cần đưa ra một gói các giải pháp phòng ngừa chủ động dựa trên
cơ sở hiểu biết đặc điểm của mầm bệnh và đường lây, động thái học của mầm bệnh
và tương tác của mầm bệnh với vật chủ và môi trường
Biện pháp phòng bệnh cho tôm khả
thi nhất và có thể áp dụng trên diện rộng?
Để tiến đến các giải pháp phòng
ngừa tôm chết sớm hiệu quả nhất,
trước tiên phải hiểu rõ các đường lây bệnh, từ đó mới đánh giá các giải pháp có
tác dụng như thế nào, đối với đường lây nào?
Dựa trên những nghiên cứu cho
thấy dịch bệnh EMS lây qua
đường miệng, khi trong nguồn nước có nhiễm mầm bệnh, hoặc tôm ăn xác tôm chết
hay các giá thể có mang mầm bệnh. Đây là đường lây ngang. Ngoài ra, có sự liên
hệ mật thiết giữa việc di chuyển tôm giống, tôm bố mẹ với sự phát tán của bệnh.
Điều này gợi ý rằng, rất có thể bệnh cũng lây truyền theo đường dọc từ tôm bố
mẹ mang mầm bệnh sang tôm con, và khi tôm con mang mầm bệnh, bệnh sẽ bùng phát
trong điều kiện ao nuôi.
Một số nghiên cứu và quan sát
cho thấy, khi mầm bệnh được dịch chuyển đến một vùng nuôi hoàn toàn mới hoặc
một quốc gia chưa từng có bệnh EMS, thì đường truyền dọc từ tôm bố mẹ sang tôm
giống là phổ biến nhất; ví dụ cụ thể là sự bùng phát của dịch bệnh ở Mêhicô năm
2013. Một khi mầm bệnh đã bùng phát ở vùng nuôi, mầm bệnh có xu hướng tồn tại
và tích luỹ trong môi trường nước và ao nuôi, dẫn đền khả năng rất cao là bệnh
sẽ tiếp tục tái diễn trên chính ao nuôi, vùng nuôi đã xuất hiện dịch bệnh trước
đó. Chúng ta có thể nhận thấy điều này qua bằng chứng ở vùng nuôi tôm ở Sóc
Trăng năm 2011 và 2012, với hiện tượng dịch bệnh tiếp diễn liên tục và gần như
không thể kiểm soát được.
Hiện nay, ở hầu hết các vùng
nuôi tôm của Việt Nam đều đã từng xảy ra dịch bệnh. Do đó, việc chú
trọng ngăn ngừa bệnh từ đường lây dọc và lây ngang đều có ý nghĩa quan trọng
như nhau. Các biện pháp ngăn ngừa sự lây lan qua đường dọc, phòng bệnh cho tôm bao gồm các giải
pháp tổng hợp từ trại tôm giống, với sự kiểm soát chất lượng tôm bố mẹ, kiểm
tra mầm bệnh từ tôm bố mẹ, các chế tài quản lý XNK tôm bố mẹ và tôm giống vào
Việt Nam, quản lý chất lượng tôm giống trước khi xuất bán, v.v...
Thông qua các nguyên cứu, đã xác định được nguyên nhân của dịch bệnh EMS là do một dòng đặc biệt của vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây ra. Vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus là loài vi khuẩn vô cùng phổ biến trong môi trường và chỉ có một dòng đặc biệt của loài vi khuẩn này gây được bệnh. Do đó, các phương pháp xét nghiệm thông thường sẽ không thể xác định được sự tồn tại của dòng vi khuẩn gây bệnh này.Hiện nay Công ty CNSH thế hệ mới NG.BIOTECH & Trung tâm ứng dụng và thử nghiệm sản phẩm đã nghiên cứu và đưa ra loại thuốc trị tôm nhiễm dịch bệnh ems thành công. Loại thuốc này đã và đang được thử nghiệm tại Sóc Trăng
Nhãn:
Dịch bệnh EMS,
dịch bệnh trên tôm,
tôm chết sớm,
tôm nhiễm bệnh ems
Previous Article

Post a Comment