Dịch bệnh EMS

0 Sản xuất tôm cá giống - Ng.Biotech



1. Kỹ thuật sản xuất tôm, cá giống
Phương pháp cho tôm nước ngọt đẻ
Tôm nước ngọt được nuôi dưỡng và sinh sản chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn cho tôm mẹ đẻ, giai đoạn nuôi tôm con và giai đoạn trưởng thành. Giai đoạn khó nhất là giai đoạn cho tôm đẻ. Hai giai đoạn sau tương đối dễ làm.
Giai đoạn cho tôm đẻ:
Giai đoạn này quan trọng nhất là môi trường nước phải trong sạch, thức ăn và cách cho ăn rất quan trọng.
Môi trường nước phải là nước pha. Có thể dùng nước biển hoặc là nước pha muối (muối này có thể mua để dùng). Ðể giữ cho nước sạch có hai phương pháp: kỹ thuật tân tiến hay phương pháp cổ điển.
  • Phương pháp tân tiến là cho tôm đẻ trong thùng ở trong nhà và phải kiểm soát các yếu tố về môi trường rất khó khăn.
  • Phương pháp cổ điển là cho tôm đẻ ở ngoài trời, trong hồ. Phương pháp này đỡ tốn kém. Sau đây là những tin tức liên quan đến phương pháp cho tôm đẻ tân tiến:
Kiểm soát môi trường nước:
Yếu tố chính là bình lọc chất cặn bã trong hệ thống nuôi tôm mẹ. Bình lọc này dùng nguyên lý sinh học tự nhiên để các vi sinh vật tự tiêu huỷ các chất dơ bẩn trong môi trường nước. Không khí với áp suất cao được sử dụng để vận hành lượng nước từ bình lọc qua hồ nuôi tôm mẹ. Các thành phần chính của hệ thống này gồm có:
1. Bình chứa nước để nuôi tôm mẹ và cho tôm mẹ đẻ
2. Bình lọc nước
3 & 4. Hệ thống ống dẫn nước
5. ỐNG và lưới chắn để lọc nước và kiểm soát tôm con
6. Ðĩa chắn chặn các vật lắng xuống.
7. Các cục tròn, làm bằng nhựa. Cục này dùng để tăng diện tích bề mặt để cho vi sinh bám vào dễ hoạt động. Cục nhựa tròn này phải mua từ đại lý.
8. Bao đựng vỏ sò được nghiền nhỏ bằng đầu đũa để điều hoà pH.
9. Một miếng nhựa có lỗ nhỏ-dùng để cản và chặn các chất dơ lại.
10. Làm một miếng vải dày để lọc các chất cặn bã
11& 12. ống khí với áp lực cao để vận hành nước.
13. Chất xúc tác tạo ra vi sinh vật để làm sạch nước. Mua tại nhà đại lý
Tất cả các vật liệu làm bằng nhựa để không gỉ sét.
Cho tôm ăn:
Con tôm mẹ khi mang bầu trứng có màu vàng đậm sẽ đưa vào bể cho sinh sản. Tôm mẹ được bỏ vào lồng nhỏ có cửa. Lồng nhỏ này được cho vào bồn sinh nở. Trứng nở thành ấu trùng có thể tự sống được khoảng một thời gian ngắn, có lẽ là 3 đến 4 ngày và phải cho ấu trùng ăn artermia. Artermia làm thức ĂN RẤT TỐT TRONG GIAI ÐOẠN ẤU TRÙNG CỦA TÔM CON. ẤU trùng được nuôi khoảng 30 ngày. Sau đó đưa ra nuôi ở hồ nước ngọt khoảng 30 ngày và khi tôm con lớn khoảng 2 phân thì đưa ra hồ nuôi tôm thịt. Nuôi khoảng 120 ngày thì tôm có kích thước và trọng lượng khoảng 75 gam một con.
Những điều cần ghi nhớ:
1. Nhiệt độ ấm khoảng 850F là tốt để tôm lớn nhanh. Việt Nam có thể nuôi hai vụ
2. Ôxy trong ao nuôi rất quan trọng, vì thiếu ôxy tôm sẽ bị chết. Dùng quạt nước của Ðài Loan thô sơ nhưng rất hiệu quả vì vừa hoà oxy vừa tạo dòng chảy cho ao hồ.
3. Cần đưa bình lọc vi sinh vào hoạt động 4 tuần trước khi cho tôm đẻ vì nếu không làm điều này sẽ làm cho nước ô nhiễm làm chết tôm ấu trùng.
4. Lựa chọn lưới, kích thước, độ rỗng của lưới rất quan trọng để ấu trùng không lọt ra ngoài.
5. Có thể dùng đèn UV đặt ở đầu vòi nước chảy vào hồ sinh sản để diêt khuẩn.
6. Lưu ý là trong môi trường nước luôn có khuẩn và cách hay nhất để bảo vệ tôm cho tăng trưởng nhanh là tạo ra môi trường nuôi dưỡng tốt để tôm có sức đề kháng lại khuẩn, chống bệnh tật.
7. Cần nghiên cứu thời gian sau 120 ngày khi tôm trong hồ nuôi-kiểm soát độ tăng trưởng để quyết định có nên kéo dài thêm ngày nuôi tôm để có thêm lợi nhuận. Bên Mỹ dùng 120 ngày vì thời gian có nhiệt độ vào mùa ấm rất ngắn.
8. Các nhà nghiên cứu về tôm nước ngọt tại Mỹ rất lạc quan về ngành này tại Mỹ. Dù mới phát triển nhưng đã có nhiều người đầu tư và theo các giáo sư Mỹ, Việt Nam là nơi rất có tiềm năng phát triển tôm nước ngọt.
9. Ðặt đèn Neon trên trần bồn ấu trùng có độ sáng đủ để ấu trùng bắt mồi.
2. Kỹ thuật sản xuất tôm, cá thương phẩm
Qui trình công nghệ nuôi tôm sú, tôm he bán thâm canh
1. Tiêu chuẩn ao đầm:
· Có bờ chắc chắn, không rò rỉ.
· Có đáy cát pha hoặc đáy có lớp bùn mỏng.
· Diện tích càng nhỏ càng dễ chăm sóc và quản lý.
· Có cống thu và thoát nước dễ dàng.
· Ðộ mặn đạt từ 10 - 25 phần ngàn.
· Ðộ pH của nước từ 7 - 8,5.
· Mức nước trong ao cần đạt từ 0,8 -1,2 m là đưược.
· Với tôm he chân trắng nên tăng độ sâu ao khoảng 1,8m để có thể nuôi vào vụ đông
2. Chuẩn bị ao đầm:
Mỗi vụ nuôi tôm khoảng 20 -25 ngày phải hoàn thành việc chuẩn bị ao gồm các bước sau đây:
1. Tháo cạn nước ao, đầm vét lớp bùn ở đáy ao (nhất là các ao, đầm đã nuôi nhiều vụ).

2. Ðảo lớp mặt đáy ao, đầm khoảng 0,1 - 0,15 m cho tơi xốp, nhưng tránh không để lớp đất phèn, chua ở dưới đáy ao bị xới lên, dọn sạch cỏ, cây trên bờ ao.


3. Khử chua bằng vôi: lượng vôi tuỳ thuộc vào độ chua của lớp đất đáy ao:
pH của đất đáy và bờ ao
Lượng vôi (Kg/ha )
4,0 -4,5
1500
4,6 -5,0
1250
5,1 - 5,5
1000
5,6 - 6,0
750
6,1 -6,5
300
6,6 - 7,0
100
4. Nếu những nơi không phải khử chua, không thể phơi đáy ao được thì tiến hành diệt tạp như sau:
· Tháo nước ao cho hết ở mức thấp nhất, đạt vào khoảng 0,05 - 0,1 m trên mặt đáy ao là tốt.
· Sử dụng một trong các loại thuốc diệt tạp như sau:
- Hạt bồ hòn giã nhỏ với liều 5-10kg/ha
- Hạt chè giã dập ngâm nước với liều 10 Kg/ha.
- Rễ cây rễ cây ruốc cá giã dập ngâm nưước: 1 Kg/1000 m3 nước, dùng trước khi thả tôm.
- Thuốc diệt tạp có bán trên thị trường theo hướng dẫn trên nhãn.
- Nên bón phân hữu cơ trong khi cải tạo phơi đáy ao
- Không nên dùng quá nhiều phân vô cơ trong đáy ao để gây màu nước.
- Rắc đều thuốc diệt tạp trên mặt ao vào lúc 9- 10 giờ sáng. Buổi chiều tiến hành tháo cạn và nhặt bỏ cá chết.
- Lấy nước vào ao qua lưới lọc để rửa ao 1- 2 lần. Lần cuối cùng nên giữ nưước lại trong ao ở độ sâu 0,8m trở lên.
5. Bón phân gây thức ăn tự nhiên trong ao.
- Bón phân hữu cơ :
Vào khoảng 10 -15 ngày trước khi thả tôm vào ao, tiến hành tháo cạn ao để bón phân hữu cơ cho ao nuôi. Sử dụng một trong các loại phân sau để bón cho 1 ha ao:
· Phân bò khô ủ mục : 1000 - 2000 Kg.
· Phân lợn ủ mục : 500 - 1000 Kg.
· Phân gà khô ủ mục : 100 - 150 Kg.
Rắc đều phân trên mặt ao. Có thể tiến hành bón đồng thời với việc khử chua cho ao như trên đã trình bày. Sau khi bón phân tiếp tục lấy nước qua lưới lọc (cỡ mắt nhỏ) vào ao tới độ sâu 0,8m trở lên.
- Bón phân vô cơ:
Trước 3 - 5 ngày trước khi thả tôm giống, sử dụng các loại phân vô cơ sau đây để gây mầu nước cho 1ha ao nuôi:
· Urea : 20 - 25 Kg.
· Phân lân : 10 - 15 Kg.
Cách bón: Cần hoà các loại phân riêng biệt trong nưước ngọt, sau đó té đều khắp mặt ao.
3. Làm sạch môi trường ao nuôi:
Tuy đã diệt tạp như mục 2.4 nhưng những mầm mống gây bệnh cho tôm vẫn có thể tồn tại trong nước (trong phân gia súc, gia cầm) được cấp vào ao nuôi, vì vậy để làm sạch môi trường nước nuôi, cũng như để diệt các mầm gây bệnh cho tôm như E.coli, Aaeromonas v.v... Cần phải dùng chế phẩm vi sinh BRF - 2AQUAKIT (Sản phẩm của công ty công nghệ Việt Mỹ 2 - 3 ngày trước khi thả tôm vào ao).
Cách dùng chế phẩm BRF - 2:
· Liều dùng: 50g BRF - 2 cho mỗi ao nuôi có thể tích 2500 m3 nước.
· Hoà đều 50g BRF-2 vào 20 lít nước, sục khí để tăng hàm lượng O2, làm tăng khả năng sinh trưởng cho các vi sinh vật trong chế phẩm. Sục khí liên tục trong vòng 24 giờ ở nhiệt độ từ 280c - 320c.
· Dung dịch trên được phun đều trên mặt ao nuôi có thể tích 2500m3, mỗi tháng dùng 3 lần (10 ngày một lần), dùng liên tục cho đến hết vụ tôm.
· Chú ý: Dung dịch sau khi sục khí được dùng không quá 72 giờ.
4. Thả tôm giống:
1. Mật độ thả:
· Ðối với tôm sú P15 là 8 con/m2
· Ðối với tôm he là 10 - 12 con /m2 .
Ðo kích thước 15 - 20 con, nếu kích cỡ tôm nằm trong khoảng 3 - 5 cm là đạt, nếu tôm có kích thước nhỏ hơn vào khoảng 2 -3 cm thì mật độ thả tôm phải tăng lên.
2. Kiểm tra chất lượng tôm:
· Tôm phải sáng màu, màu sắc phải tương đối đồng đều.
· Tôm phải khoẻ mạnh, không bơi lờ đờ, không dị hình, trong bao đựng không có tôm chết.
· Chọn 150 con tôm giống lấy 1ml formol 38 - 40% hoà trong 10 lít nước sục khí 30 phút đồng thời thả tôm khi sục khí, nếu tôm chết dưới 5 con là đạt. Bỏ những con tôm chết và tôm bơi lờ đờ, thả tôm khoẻ vào ao nuôi.
3. Làm tôm thích nghi với ao nuôi:
· Trước khi thả tôm giống xuống nước cần thả các bao đựng tôm mới chở đến xuống ao, sau đó mở miệng túi cho rộng ra, khoát thêm nước vào túi, để yên chừng 30 - 40 phút rồi mới từ từ thả tôm ra ao. Nếu tôm bơi tản, hoạt động bình thường là đạt yêu cầu.
· Thời gian thả tôm vào ao: Sáng sớm 5 - 6 giờ hoặc chiều mát 18 - 20 giờ. Tránh ngày âm u. Thả ở đầu gió hoặc thả xung quanh ao nếu trời không có gió.
5. Cho tôm ăn:
1. Khối lượng thức ăn cho tôm:
· Tháng đầu tiên: Lượng thức ăn bằng 10 - 15 % khối lượng tôm trong ao.
· Tháng thứ 2: Lượng thức ăn bằng 8 -10 % khối lượng tôm trong ao.
· Tháng thứ 3: Lượng thức ăn bằng 5 - 8 % khối lượng tôm trong ao.
2. Số lần, thời gian và tỷ lệ thức ăn cho tôm trong ngày.
· Lúc 6 giờ cho tôm ăn với khối lượng thức ăn bằng 25% tổng khối lượng thức ăn trong ngày.
· Lúc 10 giờ 15% TLTATN
· Lúc 18 giờ 25% TLTATN
· Lúc 22 giờ 35% TLTATN
3. Phương pháp cho ăn:
· Ðặt 5 - 10 khay thức ăn kiểm tra mức độ ăn của tôm vào các vị trí cố định phân bố đều trong ao. Lấy khoảng 2 - 4 % lượng thức ăn của mỗi lần cho vào các khay kiểm tra, số thức ăn còn lại rải đều vào một số điểm cố định trong ao.
· Dựa vào mức độ ăn của tôm trong các khay kiểm tra để điều chỉnh lượng thức ăn hàng ngày của tôm.
· Có một số gia đình làm sàn đựng thức ăn và đặt sàn chìm xuống ao , hàng ngày kiểm tra mức độ thừa thiếu thức ăn ở sàn để điều chỉnh lượng thức ăn cho tôm ngày hôm sau.
· Ðặt 4 vó cho 0,5 ha ao nuôi để kiểm tra sức ăn của tôm.
· Số lượng thức ăn còn lại được rải đều khắp ao nuôi (trừ khu vực góc ao và giữa ao có chất cặn bã ở đó)
Chú ý: Vào những ngày râm mát có thể cho tôm ăn thêm một lần vào lúc 14 giờ với lượng thức ăn điều chỉnh từ 2 lần cho ăn còn lại trong ngày.
6. Quản lý nước:
-Phấn đấu duy trì mức nước trong ao nuôi có độ sâu từ 0.8 - 1,2 m.
-Không nên thay nước thường xuyên, nếu thay nước thì phải xem xét toàn vùng để kiểm tra trước.
-Nếu nước thuỷ triều kém cần dùng máy bơm để cấp thêm nước để duy trì độ sâu theo tiêu chuẩn kỹ thuật.
- Nơi nào có độ mặn quá cao trên 30 phần ngàn, phải bổ xung thêm nước ngọt để có độ mặn thích hợp.
7. Quản lý ao nuôi:
-Kiểm tra bờ, cống cấp, thoát hàng ngày để kịp thời sửa chữa.
-Thường xuyên vệ sinh lưới chắn rác, lưới lọc, khay kiểm tra thức ăn, vớt váng, tảo rêu, rác bẩn trong ao.
-Dùng lưới hoặc thuốc diệt tạp kịp thời cá tạp trong ao.
-Cắm chà để tạo chỗ trú ẩn cho tôm và chống bắt trộm.
8. Quản lý môi trường và dịch bệnh:
Thường xuyên theo dõi ao nuôi và phát hiện các hiện tượng bất thường xảy ra trong ao nuôi, lựa chọn các giải pháp xử lý thích hợp.
9. Thu hoạch tôm:
1. Kiểm tra tôm trước khi thu hoạch.
· Dùng chài quăng thu mẫu để kiểm tra khối lượng trung bình của tôm trong ao. Cách tính khối lượng trung bình của tôm như sau:
· P= A/m
· Trong đó P là khối lượng trung bình của cá thể trong ao nuôi.
· A là tổng khối lượng tôm qua n lần chài
· m là số lượng cá thể tôm thu được của n lần chài.
· Nếu là tôm sú cần đạt khối lượng trung bình lớn hơn30 g/cá thể. Nếu là tôm he cần đạt khối lượng trung bình lớn hơn 12 g/cá thể.
· Về khối lượng như trên là có thể thu hoạch được. Tuy nhiên nếu thấy có nhiều cá thể vỏ mềm, phải chờ thêm 4 - 6 ngày nữa khi nào tôm cứng vỏ mới thu hoạch.
2. Thời gian và biện pháp thu hoạch:
· Nên thu hoạch tôm vào những đêm tối trời.
· Trong 3 - 4 hôm đầu sử dụng 6 - 10 đó để thu hoạch dần. Sau đó tháo cạn ao kết hợp thu tôm bằng đáy. Khi cạn dùng tay nhặt tôm hoặc vợt.
· Sau khi thu, tôm được rửa sạch, ướp đá đặt vào thùng cách nhiệt, rồi chuyển ngay tới cơ sở chế biến.
KỸ THUẬT NUÔI TÔM CÀNG XANH
Chương I:
Một số đặc điểm sinh học
I. vùng phân bố:
Tôm càng xanh phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của thế giới. Nhưng chủ yếu là vùng nam và vùng đông nam châu á, một phần của Ðại Tây Dương và một vài BÁN ÐẢO Ở THÁI BÌNH DƯƠNG. Ở Việt Nam tôm càng xanh phân bố từ Nha Trang trở vào, là nước có sản lượng tôm càng xanh trong tự nhiên nhiều hơn cả. Ví dụ: Trong năm 1980 Việt Nam khai thác ngoài tự nhiên khoảng 6.000 T/năm, Campuchia 100-200, Malaixia 120 T/năm, Thái Lan 400-500 T/năm (FAO 1979).
Tôm càng xanh có thể di chuyển giống từ vùng này sang vùng khác của thế giới, những nước không có tôm càng xanh phân bố trong tự nhiên, hiện đã di giống về nuôi như Ðài Loan, Pháp, Mỹ... Tôm càng xanh là một loài tôm nuôi có giá trị kinh tế cao trong diện tích nuôi nước ngọt.
II. Tên khoa học:
Ngành
Arthorpoda
Nghành phụ
Anterata
Lớp
Crustacea
Bộ
Decapoda
Bộ phụ
Macrara
Họ
Palaemonidae
Giống
Macrobrachium
Loài
Rosenbergii
Tên tiếng Anh
Giant prawn
III. Hình thái và tăng trưởng:
Tôm càng xanh ở nước ta có trọng lượng khá lớn, con đực đạt 450 g/cá thể. Thân tương đối tròn, cá thể trưởng thành có màu xanh dương đậm. Chuỷ phát triển nhọn và cong lên 1/2 bề dài tận cùng của chuỷ, trên mắt chuỷ có 11-15 răng, và 3-4 răng sau hốc mắt. Mặt dưới thường có 12-15 răng. Chiều dài của chuỷ cá thể trưởng thành ở con cái thường bằng hoặc ngắn hơn vỏ đầu ngực, còn chuỷ con đực dài hơn chiều dài vỏ ngực.
Chân ngực thứ 2 luôn luôn phát triển hơn các chân khác, nhất là con đực trưởng thành, đôi chân ngực thứ 2 có hình dạng và kích thước giống nhau ở 2 phía (phải và trái).
Trong quá trình tăng trưởng, con đực thường lớn nhanh hơn con cái. Khi chiều dài bình quân 8-14cm, trọng lượng cơ thể đạt 10-20g, tôm càng xanh có phát triển nhanh tương đương giữa con đực và con cái.
Trong quá trình nuôi, thả nuôi trực tiếp tôm bột (Postlarvae) sau 7 tháng nuôi, cá thể đực lớn nhất đạt 110g, cá thể cái lớn nhất chỉ đạt 50g.
IV. Chu kỳ sống và các giai đoạn biến thái
1- Chu kỳ sống:
Trong quá trình tăng trưởng và phát triển, tất cả các loài tôm (cũng như các loài giáp xác khác) đều phải lột bỏ lớp vỏ bên ngoài theo một thời gian nhất định, quá trình này gọi là lột xác, cùng với quá trình lột xác là sự lớn lên về thể xác, và trọng lượng. Khi tôm đã trưởng thành, còn có dạng lột xác sinh sản (xảy ra ở con cái).
Trong vòng đời của tôm càng xanh có 5 giai đoạn chủ yếu sau:
· Trứng - ấu trùng - Tôm bột (postlavrae) - tôm giống (Juvenile) -Tôm trưởng thành (adult).
· Mỗi giai đoạn, đòi hỏi môi trường và điều kiện sống khác nhau, vòng đời của tôm càng xanh được tóm tắt như sau:
· Khi con cái và con đực trưởng thành, con cái trứng chín, hiện tượng lột xác xảy ra, con đực và con cái tiến hành giao vỹ. Sau 2 giờ tôm cái đẻ trứng, trứng được chứa ở khoang bụng bằng 4 đôi chân bụng. Nếu tôm cái không được giao vỹ. Vẫn đẻ trứng nhưng sau 2-3 ngày trứng sẽ rụng và rời khỏi khoang trứng. Trứng thụ tinh được giữ lại ở khoang bụng. Trong quá trình ấp trứng, các đôi chân bụng hoạt động liên tục, cấp dưỡng khí cho trứng phát triển, trứng nào bị hư sẽ bị loại ra bằng đôi chân ngực thứ 2.
· Thời gian ấp trứng 17-18 ngày ở nhiệt độ nước 27 - 28oc. Số lượng trứng được đẻ ra tỷ lệ thuận với trọng lượng tôm cái, Trung bình 1g tôm cái cho 700-1000 trứng. Tôm càng xanh có đặc điểm mắn đẻ, gặp điều kiện thuận lợi, thức ăn đầy đủ, tôm có thể đẻ 4-6 lần trong năm. khi tôm đang ấp trứng, buồng trứng vẫn phát triển, phóng thích ấu trùng ở bụng xong, sau 2-5 ngày lại lột xác, giao vỹ và đẻ tiếp.
· Trứng thường nở vào ban đêm, sau1-2 đêm mới nở hết. Trong tự nhiên ấu trùng có thể nở ra vùng nước ngọt hay nước lợ. Nếu ra vùng nước ngọt ấu trùng phải di chuyển ra vùng nước lợ để sống, nếu không di chuyển được sau 3-15 ngày sẽ chết hết. ấu trùng thường sống trong vùng nước có độ mặn từ 7- 8% để tồn tại và phát triển. Thời gian ấu trùng chuyển thành tôm bột nhanh nhất là 16 ngày và dài nhất khoảng 40 ngày. Khi chuyển thành tôm bột, chúng sẽ di chuyển về vùng nước ngọt để phát triển và tăng trưởng. Lúc này tôm bột có độ thẩm thấu độ mặn rộng, đó là đặc tính của loài tôm này.
2- Các giai đoạn biến thái:
· Trứng tôm đẻ ra có hình ellip chiều dài 0.6- 0.7mm, mới đẻ ra có màu vàng cam, trong quá trình ấp màu sẽ chuyển dần sang xám đậm trước khi nở.
· Ấu trùng có 11 giai đoạn biến thái, mỗi giai đoạn có một hình thaí khác nhau, giai đoạn 1 dài 2mm; giai đoạn 11 dài khoảng 7mm.
· Giai đoạn tôm bột: Lúc mới xuất hiện có chiều dài khoảng 7mm, đặc tính hơi giống tôm trưởng thành. Cơ thể có màu trong mờ, phía đầu có màu hơi đỏ.
· Các giai đoạn sau đều có hình dạng giống tôm bột, chỉ khác nhau về trọng lượng và kích thước.
V. Tập tính và bắt mồi:
Tôm càng xanh là loài ăn tạp nghiêng về động vật, trong tự nhiên khi kiểm tra dạ dày thức ăn gồm có: Nguyên sinh động vật, giun nhiều tơ, giáp xác, côn trùng, nhuyễn thể các mảnh cá vụn, các loài tảo và mùn bã hữu cơ, cát mịn.
Hình dạng và màu vị thức ăn đóng một vai trò quan trọng trong việc hướng tôm đến bắt mồi. Ðiều này rất quan trọng trong việc chế biến thức ăn cho tôm.
Tôm thường bắt mồi vào chiều tối và sáng sớm, tôm thường bò trên mặt đáy ao, dùng càng nhỏ đưa mồi vào miệng. Ðặc tính của tôm càng xanh nếu không đủ thức ăn, chúng hay ăn thịt lẫn hau khi lột xác, đây là đặc tính của loài. Trong nuôi tôm thương phẩm phải chú ý đến hiện tượng này, dùng các biện pháp kỹ thuật để hạn chế sự ăn thịt lẫn nhau của tôm.
Nguồn: American Technologies Inc
[Xem tiếp...]


2 Cách ươm và nuôi tôm phẩm - Ng.Biotech



I. Ươm từ tôm bột thành tôm giống:
1- Xây dựng cải tạo ao:
Vị trí ao phải có nguồn nước ngọt quanh năm, nguồn nước không bị ô nhiễm, pH 6- 8.
a- Xây dựng ao:
Ao ươm có hình chữ nhật, diện tích ao 500-1000m2, dễ chăm sóc và quản lý, ao có cống cấp và thoát nước, độ dốc thoải về cống thoát, độ sâu của ao 1.2 m, hệ số mái thoải khoảng 1:2, đáy ao bằng phẳng dễ thu hoạch.
b- Cải tạo ao:
Ao ươm trước lúc nuôi cải tạo kỹ càng, ao cũ tháo cạn, vét bỏ bớt bùn, chỉ chừa lại 15 cm là vừa. Sau đó bón vôi ao, nếu bón vôi từ 2-3 T/ha là quá cao mà phải tuỳ vào chất đất để dùng vôi cho phù hợp. Bón xong giữ cho ao đủ độ ẩm, không để nước vào quá nhiều. Sau 3 ngày bón phân hữu cơ, trước khi dùng phải diệt vi khuẩn và vi sinh, dùng với liều lượng vừa phải, nếu dùng quá nhiều tảo sẽ phát triển quá mức. Sau đó lọc trong nước vào sau 10-15 ngày là thả nuôi. Trường hợp ao không xả hết nước, hay trong ao có cá tạp, cá dữ dùng thuốc diệt cá như rễ cây deris, saponin liều dùng khoảng 1 Kg/100m3, diệt tạp trưước 2 ngày rồi mới thả tôm.
2- Vận chuyển thả giống và mật độ ươm:
a- Vận chuyển giống:
Tôm PL được đóng trong túi ni lon (60*90cm) 1/3 nước, 2/3 0xy, mỗi túi đóng 6000-8000 PL, thời gian vận chuyển 10-12 giờ. Khi tới ao nuôi thời gian thả tốt nhất là 5-9 giờ và 16-18 giờ. Các bao được bỏ xuống ao, để nhiệt độ trong ao và môi trường cân bằng nhau (khoảng 20-30 phút) rồi mới thả, thả cánh bờ 2-3m tránh PL nhảy dính vào bờ.
b- Mật độ ươm:
Tuỳ thuộc vào thời gian ươm và kỹ thuật chăm sóc quản lý, thường ươm từ 2-3 tháng. theo chúng tôi nghĩ chăm sóc tốt, ươm 1,5 tháng là vừa. Thời gian này tôm dễ vận chuyển, ít hao bắt mồi. Trong các ao để các sàng chứa thức ăn, kiểm tra lượng thức ăn thừa hay thiếu, nếu thiếu hôm sau bổ xung thêm, nếu thừa hôm sau giảm bớt.
c- Thức ăn và cho ăn:
Thức ăn cho ăn có thể dùng thức ăn viên, hay cá hấp, chủ yếu là bảo đảm hàm lượng Protein, chất lượng thức ăn như sau:
· Protein 30 - 35%
· Lipid 5 - 8%
· Canxi 2 - 3%
· Phospho 3 - 6%
· Cellulose 3 - 5%
Lượng thức ăn được tính theo % trọng lượng cá thể theo bảng 3:
Bảng 3
Thời gian nuôi (ngày)
Trọng lượng cá thể (g)
Thức ăn khô (%)
Thức ăn tươi
(%)
Ghi chú
0-27
28-60
0,051-0,5
0,5-1,0
40
20
200
100
T/lượng cá thể tính trung bình
Ngày cho ăn 3-4 lần, thức ăn được rải đều ao, để tôm dễ bắt mồi.
4- Chăm sóc và quản lý ao ươm:
Ao ươm duy trì mức nước 0,8-1,0m, nếu vùng có cá dữ phải dùng các biện pháp ngăn chặn không cho vào ao. Theo dõi tôm ăn đủ hay thiếu, điều chỉnh kịp thời, 10-15 ngày đầu không thay nước. Sau đó thay nước hàng ngày 20-30% lượng nước trong ao, cắm thêm chà làm giá để cho tôm bám và tạo chỗ trú ẩn lúc tôm lột xác.
5- Thời gian ươm và thu hoạch:
Thời gian ươm, tuỳ thuộc vào điều kiện và vị trí nuôi tôm thịt, nếu vùng nuôi cạnh ao ươm có thể ươm kéo dài 2-3 tháng, vùng nuôi xa ao ươm, nên ươm từ 45-60 ngày dễ vận chuyển ít hao hụt.
Trước lúc thu hoạch phải chuẩn bị bể chứa có sục khí, hay các giai cắm xuống ao bên cạnh ao chứa tôm. Thu hoạch vào ban đêm hay sáng sớm, bằng cách tháo ao có lưới thu hoạch, không nên để nước chảy mạnh qúa, thời gian trút lưới 15-20 phút 1 lần, để lâu quá tôm yếu.
II. Nuôi tôm thương phẩm trong ao và ruộng lúa:
1.Chọn vị trí xây dựng ao và ruộng:
a. Ao nuôi:
Vị trí xây ao dựng ao nuôi, phải xây dựng ao cao hơn con nước cao nhất trong năm ít nhất là 1m. Các chỉ tiêu thuỷ hoá chủ yếu của nguồn nước là:
pH
6-6,8
Ðộ cứng tông cộng
>20mg/l
Ca
5mg/l
Oxy
> 3mg/l
Fe
Tổng cộng 0.2mg/l
Nếu gần nguồn điện, thuận tiện giao thông càng tốt.
b. Ruộng lúa:
· Diện tích nuôi trong ruộng lúa, vừa quản lý cho một hộ nuôi khoảng 1-1.5 ha. Có bờ ao chắc chắn không bị rò rỉ, nếu vùng có thuỷ triều, phải xây dựng cao hơn con nước cao nhất trong năm 0.5 m.
· Xung quanh ruộng đào mương rộng từ 3-5m, sâu 1m, mương phải bằng phẳng dốc về hướng cống thoát, đào thêm các mương phụ rộng từ 1-2m sâu 0.8m nối liền với mương chính, diện tích đào mương chiếm 15-20% tổng diện tích ruộng.
· Cống: Tuỳ theo diện tích rộng hay hẹp xây cống nhiều hay ít, ruộng diện tích hẹp làm một cống cấp nước và 1 cống thoát, ruộng từ 1ha trở lên làm 2 cống cấp và 1 cống thoát.
· Xây dựng hệ thống cấp và thoát nước đều phải tính toán giữ được ổn định mực nước trên ruộng khoảng 20cm, cống thoát nước phải tháo cạn nước khhi cần thiết. Khẩu độ cống 0.5-0.7m có lưới bảo vệ chống cá dữ và tôm ra ngoài.
2- Cải tạo và ruộng:
a- Cải tạo ao:
Ao được cải tạo bằng cách bón vôi và phân chuồng, diệt tạp như ao ươm. Sau đó lọc nước vào, sau 10-15 ngày mới thả nuôi. Khi kiểm tra chất lượng nước ao có các chỉ số sau trước khi thả là tốt.
Oxy
4-7 mg/l
pH
7-8
Ðộ trong
20cm
Tảo (phytoplankton)
300.000-800.000th/l
Ðộ cứng tổng cộng
50mg/l
Nếu ao có nhiều bọ gạo nên diệt bọ gạo trước lúc thả tôm.
Mực nước trong ao nên duy trì từ 1-1.5m.
b- Ruộng nuôi tôm:
Ruộng nuôi tôm, trước lúc thả ra ta phải cải tạo ao giống như ở phần trên, nước lọc kỹ lưỡng, trường hợp khó cải tạo tháo cạn, ta dùng thuốc diệt cá dữ, cá tạp ở mương, diệt tạp nuôi mới hiệu quả.
3- Cách vận chuyển giống và mật độ thả:
a- Cách vận chuyển:
· Hiện nay bà con nông dân quen nuôi tôm có kích thước từ 3-4 cm trở lên, chưa quen nuôi giống nhỏ, cho nên việc vận chuyển giống lớn phải đảm bảo kỹ thuật mới cho tỷ lệ sống cao.
· Khi vận chuyển giống ở ao ươm đi xa vùng nuôi, phải thu hoạch trước 1-2 ngày, rộng tôm vào giai hay bể, để tôm khoẻ rồi mới vận chuyển.
· Sau đó dùng bao nylon (60*90) có bao bảo vệ, 1/3 nước và 2/3 0xy, đóng 1000-2000 con/bao, loại 3-4 cm (0.5-1g/con) nhiệt độ của nước trong bao: 240oc. Thời gian vận chuyển 8-10 giờ. Thời gian thả như phần ươm tôm.
b- Mật độ thả:
· Ðối với ao nuôi mật độ từ 4-6 con /m2
· Đối với ruộng lúa mật độ 6 con / m2
4- Thức ăn, khẩu phần ăn và cách cho ăn:
Thức ăn cho tôm bảo đảm đủ dinh dưỡng và khoáng để tôm phát triển tốt, lột xác dễ dàng. Có thể dùng thức ăn viên, cá vụn, con ruốc hay tép...Nhưưng phải bảo đảm các thành phần hoá học sau:
· Protein 30-35%
· Lipid 3-5%
· Canxi 2-3%
· Phospho 1-1.5%
· Cellulose 3-5%
Khẩu phần ăn tính theo% trọng lượng thân, hay từng khoảng thời gian một thay đổi hệ số 1 lần. Trong ruộng lúa chỉ cần cho ăn bằng 1/2 lượng thức ăn trong ao. Vì tôm có thể ăn thức ăn tự nhiên trong ruộng lúa. Có thể dựa vào bảng 4 để tính lượng thức ăn hàng ngày.
Nếu dùng thức ăn tươi sống tăng lên 4-5 lần.
Cho ăn ngày 2 lần vào lúc 6h và 18h. Thức ăn được rải đều khắp ao để tôm dễ bắt mồi. Trong các ao các sàng chứa thức ăn, kiểm tra lượng thức ăn thừa hay thiếu, nếu sau 1 giờ tôm ăn hết là vừa, nếu thiếu hôm sau bổ sung thêm, nếu thừa giảm xuống.
Bảng 4
Thời gian nuôi (ngày)
Trọng lượng cá thể trung bình(g)
Tỷ lệ sống
Thức ăn % trọng lượng thân
Ao
Ruộng
1-20
1
100
20
10
21-40
7
95
15
7
41-60
13
90
10
5
61-80
22
85
8
4
81-100
31
70
5
2.5
101-120
40
71
4
2
121-150
50
60
3
1.5
ở ruộng ta phải rải đều ra các mương xung quanh ruộng
5- Chăm sóc và quản lý:
Ðây là khâu quan trọng quyết định cho sự thành bại. Do đó phải quản lý môi trường ao nuôi thật chặt chẽ. Trong quá trình nuôi tôm thịt, nghệ thuật quản lý ao nuôi hơn là chính xác
khoa học, vì thế kết quả thu được ảnh hưởng bởi khả năng của người chăm sóc và việc giải quyết kỹ thuật với các yếu tố xảy ra trong quá trình nuôi.
a.Thay nước :
· Mực nước trong ao ổn định 1-1,2 m
· Trong đó ao nuôi phải thay thường xyên nước (tháng đầu có thể không thay) tháng thứ 2 trở đi phải được thay nước thường xuyên 10-20% lượng nước trong ao. Lượng nước thay là nước đáy ao, thường nghèo dinh dưỡng, dễ gây bệnh do thừa thức ăn để lại ). Khi thay nước tức là đã pha loãng nồng độ độc tố có trong ao như NH3, NO2, H2S, vv...
· Loại bỏ các chất keo tụ ở đáy ao, làm mất đi các giá thể, vi sinh bám vào và tăng thêm nồng độ OXY cho ao.
· Ðối với ruộng , do nuôi mật độ thưa khoảng 1 con/m2 cho nên thay nước không quan trọng, tuỳ theo thực tế ta có thể thay nước 2-3 lần /tháng.
b. Bón phân:
· Trong ao nuôi nghèo dinh dưỡng, tảo ít phát triển (nước trong) ta cần bón thêm phân N.P.K 5 Kg/ha/tháng. Vùng nước có độ cứng thấp, dưới 50 mg/l nên bón thêm bột đá vôi CaC03 hay bột vỏ sò 200 Kg/ha, 2 tháng 1 lần, tăng độ cứng trong nước giúp tôm dễ dàng tạo vỏ mới, để lột xác.
· Trong ruộng không cần bón thêm phân.
c. Theo dõi độ pH:
Trong ao nuôi pH luôn thay đổi, pH cao trong ao có hàm lượng NH+ cao rất độc cho tôm.
· Nếu pH = 7 NH4+ là 90%
· NH3+ là 10%
· Nếu pH = 9,5 NH4+ là 20%
· NH3+ là 80%
· NH3+ rất độc cho tôm nuôi, trong ao nuôi NH3+ không được cao quá 0,2 mg/l, ao có tảo phát triển quá nhiều, khi tảo chết sẽ độc cho tôm. Do đó khi pH cao hơn 8,5 phải thay nưước nhiều, pH cho phép từ 7,5 - 8,5, không được cao quá hay thấp quá.
d. Oxy:
Oxy là dưỡng khí bảo tồn sự sống cho tôm. Trong không khí, oxy chiếm 20-25% nhưng nó hoà tan trong nước không nhiều, do đó khu vực nuôi tôm phải thoáng gió, ao không sâu quá tránh hiện tượng phân tầng, thường xuyên kiểm tra oxy để dự đoán trước các trường hợp thiếu oxy, trong ngày thường vào 1-5 giờ oxy luôn thấp, oxy tốt nhất là 5-7 mg/l, nếu oxy 3mg/l tôm sẽ nổi quanh bờ, 2 mg/l tôm sẽ chết.
e. Một số trường hợp khi nuôi tôm ở ruộng:
Trong ruộng lúa ta sử dụng cấy loại lúa chống chịụ được bệnh để giảm bớt việc sử dụng thuốc trừ sâu. Khi sử dụng thuốc trừ sâu, tháo cạn nước cho tôm xuống các mưương mới xịt thuốc, khi thuốc hết tác dụng mới dâng nước lên tránh gây độc cho tôm.
f. Phòng trừ dịch hại:
Vùng nhiều địch hại như cá dữ, chim phải tìm cách chống xâm nhập vào ao, nhưư làm rào chắn, đào mương hay diệt chết theo sự rò rỉ của bờ ao, cống, tôm dễ theo nguồn nước ra ngoài. Trong ao và mương ở ruộng thả trà bảo vệ và làm chỗ trú ẩn cho tôm lúc lột xác.
· Chloramphenicol : 1,0 g/Kg thức ăn
· Furazon 0,25 g/Kg thức ăn
· Oxy tetracylin 1,8 g/Kg thức ăn
6- Phòng bệnh và kiểm tra bệnh lý:
Trong ao nuôi tôm cũng như các loài thuỷ sản khác, biện pháp phòng bệnh là hữu hiệu nhất, còn chữa bệnh ít hiệu quả.
a- Phòng bệnh:
· Cải tạo ao và ruộng tốt.
· Chất lượng con giống tốt.
· Quản lý môi trường ao nuôi tốt, không để các hiện tượng sốc xảy ra, nhưư pH cao, Oxy thấp.
· Thức ăn cho ăn đầy đủ, đảm bảo chất lượng.
· Trộn thuốc vào thức ăn, 10 ngày cho ăn 1 lần, dưới dạng thức ăn viên.
b- Một số bệnh thường gặp:
· Ðóng rong: Trong ao có nhiều con tôm bị đóng rong, chiếm trên 10% lượng tôm ở trong ao, đây là do hiện tượng thiếu dinh dưỡng , tôm không lột xác được, lúc này ta phải bổ xung ngay thức ăn đủ dinh dưỡng, tôm sẽ lột xác bình thường.
· Mềm vỏ: Tôm lột xác xong 1-2 giờ la lớp vỏ ngoài cứng, nhưng trong ao thấy tôm lột vỏ mềm vỏ lâu, có số lượng mềm vỏ nhiều. Ðây là hiện tượng nguồn nước có độ cứng thấp, thức ăn thiếu Ca và Phospho không đủ để tôm tạo vỏ tốt.
· Bệnh phồng mang: Ðây là dạng ký sinh bám vào các tấm mang do nguồn nước trong ao bẩn ít thay nước.
· Bệnh ký sinh: Protozoa ở vùng nước nhiễm bẩn, ao ít thay nước tôm dễ bị nhiễm bệnh này, trên cơ thể tôm mọc thành đám như sợi bông. Ðó là bọn Zoothamnium epistylis, nếu lượng ký sinh nhiều, tôm không lột vỏ được và bị chết.
7- Thời gian nuôi :
Tôm thường nuôi từ 5-6 tháng là thu hoạch, ta có thể đánh tỉa và có thể kéo dài 6-8 tháng, trọng lượng tôm nuôi có thể đạt trung bình tôm đực: 65g/con, tôm cái: 35g/con
8- Năng suất :
· Năng suất nuôi tốt nhất trong ao có thể đạt 800-1.200 hụt, mật độ ươm 150-200 PL/m2. /vụ Kg/ha.trong ruộng lúa đạt 150 - 200 Kg/vụ/ha.
· Việc nuôi tôm càng xanh bán thâm canh và nuôi quảng canh cải tiến trên ruộng lúa, đang phát triển tốt ở nước ta, đạt hiệu quả kinh tế. Khi người nuôi tôm nắm bắt được các kỹ thuật nuôi cơ bản, nuôi sẽ thành công.

Nguồn: American Technologies Inc
[Xem tiếp...]


Home page